Sau 10 năm triển khai Nghị định số 115/2005/NĐ-CP với tinh thần đổi mới và giao quyền tự chủ mạnh mẽ cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập, nhất là các quyền về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tài sản, tổ chức bộ máy và nhân lực, nhiều tổ chức khoa học và công nghệ đã chuyển đổi thành công, khẳng định được vị thế, thương hiệu của đơn vị trên thị trường; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ khoa học.
Tuy nhiên việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP đến nay chưa có nhiều kết quả, các đơn vị chưa tự chủ được nguồn kinh phí bảo đảm tiền lương; kết quả nghiên cứu về cơ bản chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội...
Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định 54/2016/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Nghị định này quy định quyền tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập bao gồm quyền tự chủ về tài chính, thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, quản lý và sử dụng tài sản.
Theo Nghị định, tổ chức khoa học và công nghệ công lập được phân loại theo mức độ tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư gồm: 1- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; 2- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi đầu tư); 3- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi đầu tư); 4- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi đầu tư).
Cơ chế tự chủ
Nghị định 54/2016/NĐ-CP quy định rõ tự chủ về tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập trên.
Cụ thể, nguồn tài chính của tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên gồm nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết và nguồn thu hợp pháp khác; nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại để chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí; nguồn thu từ ngân sách nhà nước nếu được cơ quan có thẩm quyền giao để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công; nguồn thu từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên nếu được cơ quan có thẩm quyền giao; nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định hiện hành.
Nguồn tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên gồm: nguồn thu từ ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công; nguồn thu từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên; nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại để chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí; nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định hiện hành; nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết và nguồn thu khác theo quy định hiện hành.
Chính sách thuế, tín dụng
Nghị định cũng quy định chính sách ưu đãi đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Theo đó, tổ chức khoa học và công nghệ công lập được hưởng chính sách ưu đãi về thuế theo quy định hiện hành. Cụ thể, tổ chức khoa học và công nghệ công lập được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp thì được hưởng ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như đối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cụ thể được áp dụng thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm, được miễn thuế tối đa không quá bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo.
Ngoài ra, tổ chức khoa học và công nghệ công lập còn được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng và các ưu đãi khác theo quy định hiện hành.
Theo Chinhphu.vn
- Đắk Lắk khẩn trương hoàn thiện Đề án Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 10 năm 2027 (23/10/2026, 17:12)
- Chương trình ‘Thanh âm Việt Nam. Giai điệu cuộc sống’ năm 2026 bắt đầu từ ngày 12/10 đến hết ngày 30/11/2026 (21/10/2026, 13:43)
- Đắk Lắk tăng cường huy động nguồn lực thực hiện tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh (21/10/2026, 10:05)
- Thông báo Kết luận của đồng chí Đỗ Hữu Huy, Chủ tịch UBND tỉnh tại buổi làm việc với các xã, phường ven biển khu vực phía Đông tỉnh (19/10/2026, 15:24)
- Đắk Lắk tăng cường công tác tuyên truyền, chủ động phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue trên địa bàn tỉnh (19/10/2026, 11:08)
- Đắk Lắk Thông báo lịch nghỉ Tết Âm lịch và nghỉ lễ Quốc Khánh năm 2027 (15/10/2026, 14:09)
- Triển khai các nhiệm vụ hợp tác chuyển đổi số giữa UBND tỉnh Đắk Lắk và các doanh nghiệp viễn thông (12/10/2026, 16:55)
- Đắk Lắk phê duyệt Đề án đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thu hút đầu tư giai đoạn 2026 - 2030 (06/10/2026, 10:00)
- Thực hiện điều chỉnh Đề án phát triển ngành nuôi trồng thủy sản lồng bè, hướng tới phát triển kinh tế biển bền vững (28/09/2026, 14:33)
- Đắk Lắk đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch trồng rừng và trồng cây phân tán năm 2026, giai đoạn 2026 – 2030 (23/09/2026, 09:13)
- Đắk Lắk triển khai thí điểm 04 mô hình mẫu “Bình dân học vụ số” trên địa bàn tỉnh (22/09/2026, 10:04)






































